CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
DOANH NHÂN VÀ HẠNH PHÚC
Thân – Tâm – Gia -Xã
Chương trình đào tạo dành cho doanh nhân Việt Nam đương đại
I. THÔNG TIN TỔNG QUAN
Trong gần ba thập kỷ kể từ Đổi mới, một thế hệ doanh nhân Việt Nam đã trưởng thành và đạt được những thành tựu vật chất đáng kể. Tuy nhiên, ở giai đoạn giữa đời sự nghiệp, nhiều doanh nhân bắt đầu đối diện với một câu hỏi mà các chương trình MBA và executive education truyền thống không trả lời được: thành công để làm gì? Câu hỏi này không phải là dấu hiệu của sự sa sút động lực, mà là biểu hiện của một sự trưởng thành nội tâm : khi con người, sau khi đã đáp ứng các nhu cầu vật chất và xã hội, bắt đầu tìm kiếm ý nghĩa và sự toàn vẹn trong cách họ sống và lãnh đạo.
Chương trình “Doanh nhân và Hạnh phúc : Thân, Tâm, Gia, Xã” được thiết kế để cùng học viên đối diện và đáp ứng câu hỏi đó. Khác với các chương trình executive thị trường vốn tập trung vào việc làm thế nào để thành công hơn : tăng trưởng, lãnh đạo, chiến lược, tài chính : chương trình này đặt câu hỏi sâu hơn: thành công để làm gì. Đây là sự dịch chuyển từ logic công cụ (instrumental rationality trong tiếng Anh, theo cách phân loại của Max Weber) sang logic giá trị (value rationality), và là điểm khác biệt căn bản tạo nên định vị riêng của chương trình.
Bốn chiều của một đời sống viên mãn được chương trình tổ chức thành bốn module: Thân (sức khỏe toàn diện), Tâm (hạnh phúc và thiên chức nghề nghiệp), Gia (đời sống gia đình và truyền lửa giữa các thế hệ), Xã (trách nhiệm xã hội và di sản doanh nhân). Trật tự bốn module được thiết kế theo logic “từ thân đến tâm, từ trong ra ngoài” : bắt đầu từ thân thể như nền tảng vật chất của mọi đời sống tinh thần và xã hội, mở rộng dần ra cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội rộng lớn.
Chương trình kéo dài bốn tháng dương lịch (khoảng 16 tuần), được tổ chức theo hình thức học cuối tuần (Thứ Bảy và Chủ Nhật) tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết thúc bằng một retreat tổng kết ba ngày hai đêm. Mỗi khóa tuyển sinh giới hạn 24-28 học viên để bảo đảm chất lượng tương tác và xây dựng được một mạng lưới đồng môn có giá trị bền vững về sau.
II. MỤC TIÊU CHƯƠNG TRÌNH
Chương trình hướng đến ba mục tiêu căn bản, tương ứng với ba sợi chỉ tư tưởng xuyên suốt toàn bộ nội dung và phương pháp đào tạo.
Mục tiêu thứ nhất : Khôi phục quan niệm về nhân vị toàn diện. Học viên kết thúc chương trình hiểu được rằng con người không phải là một bộ máy sinh học cần tối ưu hóa hiệu suất, cũng không phải là một đơn vị kinh tế đơn lẻ tối đa hóa lợi ích cá nhân, mà là một nhân vị (human person trong tiếng Anh, personne humaine trong tiếng Pháp) có phẩm giá nội tại, có chiều thân–tâm–linh, và chỉ trở thành chính mình trong tương quan với người khác. Mục tiêu này được cụ thể hóa qua việc học viên tự xây dựng một “Hồ sơ Cuộc sống Toàn diện” của chính mình.
Mục tiêu thứ hai : Tái khám phá thiên chức nghề nghiệp. Học viên có khả năng phân biệt giữa nghề nghiệp như một công cụ kiếm sống và nghề nghiệp như một thiên chức (vocation trong tiếng Anh, Beruf trong tiếng Đức theo cách dùng của Max Weber) : tức một tiếng gọi sâu xa mà mỗi người đáp lại bằng cách thế đặc thù của riêng mình. Học viên có khả năng diễn đạt được “thiên chức doanh nhân” của bản thân và xây dựng một kế hoạch sống phù hợp với thiên chức đó.
Mục tiêu thứ ba : Hình thành tầm nhìn về kinh tế nhân văn. Học viên hiểu được rằng doanh nghiệp không phải là cỗ máy tạo lợi nhuận tối đa cho cổ đông (mô hình Friedman cổ điển), mà là một cộng đồng những con người làm việc cùng nhau để vừa nuôi sống bản thân và gia đình, vừa đóng góp cho công ích chung. Học viên có khả năng định hình lại doanh nghiệp của mình theo các nguyên tắc của một nền kinh tế đặt con người làm trung tâm.
Ba mục tiêu trên được cụ thể hóa qua một sản phẩm cuối khóa:
Tuyên ngôn Doanh nhân Toàn diện : một văn bản cá nhân do mỗi học viên tự soạn thảo và bảo vệ tại retreat tổng kết, trong đó họ trả lời ba câu hỏi: Thiên chức của tôi là gì? Tôi đang sống nhân vị mình ra sao? Doanh nghiệp của tôi sẽ góp phần xây dựng nền kinh tế nhân văn như thế nào?
III. CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH
Chương trình gồm 10 học phần, được phân vào sáu khối nội dung như bảng sau:
Khối | STT | Mã HP | Tên học phần | Thời lượng |
|---|---|---|---|---|
Khối Mở đầu | 1 | HP1 | Khai giảng : Doanh nhân, Tôi là ai? | Nửa ngày |
Khối Thân | 2 | HP2 | Nhân vị Toàn diện và Quan niệm Sức khỏe | 1 cuối tuần |
3 | HP3 | Chăm sóc Thân–Tâm Tích hợp | 2 cuối tuần | |
Khối Tâm | 4 | HP4 | Triết lý Hạnh phúc và Thiên chức Nghề nghiệp | 2 cuối tuần |
5 | HP5 | Khủng hoảng Giữa đời và Sự Chuyển hóa Nội tâm | 2 cuối tuần | |
Khối Gia | 6 | HP6 | Gia đình Hiện đại và Hôn nhân Bền vững | 2 cuối tuần |
7 | HP7 | Nuôi dạy Con cái và Gia phong giữa các Thế hệ | 2 cuối tuần | |
Khối Xã | 8 | HP8 | Đạo đức Kinh doanh và Phẩm giá Lao động | 2 cuối tuần |
9 | HP9 | Doanh nhân, Cộng đồng và Di sản Xã hội | 1 cuối tuần | |
Khối Đồng hành | 10 | HP10 | Retreat : Tuyên ngôn Doanh nhân Toàn diện | 3 ngày 2 đêm |
Tổng thời lượng: Nửa ngày khai giảng + 14 cuối tuần học chính + 3 ngày 2 đêm retreat ≈ 16 tuần học chính thức (4 tháng dương lịch). Ngoài thời gian học tập trung, học viên dành tối thiểu 4-5 giờ mỗi tuần cho hoạt động tự đọc, viết nhật ký phản tư, và đối thoại đồng môn theo cặp.
IV. NỘI DUNG TÓM TẮT TỪNG HỌC PHẦN
HP1 : Khai giảng: “Doanh nhân, Tôi là ai?” Học phần mở đầu định vị toàn bộ chương trình bằng câu hỏi nền tảng về ý nghĩa thành công và ý nghĩa nghề nghiệp của doanh nhân ở giai đoạn giữa đời. Học phần giới thiệu khung tư tưởng “bốn chiều của một đời sống viên mãn” : Thân, Tâm, Gia, Xã : qua bốn chân dung doanh nhân thực, đồng thời trình bày ba phương pháp xuyên suốt của chương trình: phản tư (reflective practice), đối thoại đồng môn (peer dialogue), và tiếp xúc trực tiếp (encounter). Phần “Vòng tròn giới thiệu” giúp học viên xây dựng tin cậy ban đầu thông qua việc chia sẻ một thành tựu, một thất bại định hình, và một kỳ vọng cá nhân với chương trình. Học phần kết thúc bằng việc trao nhật ký phản tư : công cụ cá nhân duy nhất học viên sử dụng đều đặn trong suốt khóa.
HP2 : Nhân vị Toàn diện và Quan niệm Sức khỏe Học phần đặt vấn đề về sức khỏe ở chiều sâu triết học và thực nghiệm. Phần lý thuyết giới thiệu các quan niệm sức khỏe trong các truyền thống : từ hygieia (ὑγίεια trong tiếng Hy Lạp cổ đại) đến âm dương quân bình trong Đông y, từ mô hình y sinh học (biomedical model) đến mô hình thân–tâm–xã hội (biopsychosocial model) của George Engel : để học viên hiểu được sức khỏe không phải là sự vắng mặt của bệnh tật mà là sự hài hòa của cả ba chiều thân, tâm, và xã hội. Phần thực nghiệm trình bày dữ liệu về tình trạng sức khỏe của giới doanh nhân Việt Nam: rối loạn giấc ngủ, hội chứng kiệt sức nghề nghiệp (burnout syndrome), các bệnh lý chuyển hóa, và đặc biệt là vấn đề sức khỏe tâm thần. Học viên thực hiện đánh giá sức khỏe đầu vào do Viện Y Dược học chủ trì, làm cơ sở cho Hồ sơ Sức khỏe Cá nhân.
HP3 : Chăm sóc Thân–Tâm Tích hợp Học phần triển khai bốn trụ cột của thực hành chăm sóc thân–tâm: dinh dưỡng có chánh niệm (mindful eating), vận động theo nhịp sinh học, vệ sinh giấc ngủ (sleep hygiene), và quản lý stress qua các thực hành điều hòa thần kinh thực vật (hơi thở, thiền định, biofeedback). Khác với cách tiếp cận “biohacking” thịnh hành ở Silicon Valley vốn coi thân thể như cỗ máy cần tối ưu, học phần này đặt việc chăm sóc thân thể trong chiều kích nhân vị : như một hình thức tôn trọng bản thân và như một thực hành tâm linh trong nhiều truyền thống. Học phần có một buổi thực hành nấu và ăn bữa cơm chánh niệm cùng nhau, một buổi đối thoại với chuyên gia tâm lý lâm sàng về sức khỏe tinh thần của doanh nhân, và một phiên cố vấn 1-1 với chuyên gia y tế để xây dựng Kế hoạch Chăm sóc Sức khỏe Cá nhân cho 12 tháng tiếp theo.
HP4 : Triết lý Hạnh phúc và Thiên chức Nghề nghiệp Học phần khảo sát các quan niệm hạnh phúc trong các truyền thống tư tưởng : từ eudaimonia (εὐδαιμονία) của Aristotle, ataraxia (ἀταραξία) của các nhà Khắc kỷ (Stoicism), trung đạo của Phật giáo, đến tâm lý học tích cực (positive psychology) hiện đại với các tác giả như Martin Seligman (mô hình PERMA) và Mihaly Csikszentmihalyi (khái niệm flow). Trên nền tảng đó, học phần giới thiệu khái niệm thiên chức nghề nghiệp (vocation, Beruf) như đã được Max Weber phân tích trong tác phẩm Đạo đức Tin Lành và Tinh thần của Chủ nghĩa Tư bản (Die protestantische Ethik und der Geist des Kapitalismus, 1905), và trong các nghiên cứu nhân học nghề nghiệp đương đại. Học viên được hướng dẫn viết bài luận giữa kỳ trả lời câu hỏi: “Thiên chức doanh nhân của tôi là gì?” : sản phẩm này là một trong các điều kiện đánh giá chính của chương trình.
HP5 : Khủng hoảng Giữa đời và Sự Chuyển hóa Nội tâm Học phần đối diện một thực tại mà giới doanh nhân Việt Nam thường e dè thảo luận công khai: khủng hoảng giữa đời (midlife crisis theo cách gọi phổ thông, hay midlife transition theo Daniel Levinson trong nghiên cứu về các giai đoạn phát triển người trưởng thành). Phần lý thuyết phân biệt giữa khủng hoảng như một sự sụp đổ bệnh lý và khủng hoảng như một cánh cửa chuyển hóa : gần với khái niệm crisis trong tiếng Hy Lạp cổ vốn có nghĩa là “phán quyết” và “thời điểm quyết định”. Phần ứng dụng giới thiệu các thực hành chăm sóc đời sống nội tâm: chánh niệm theo Phật giáo, examen theo truyền thống linh đạo phương Tây (trình bày dưới ngôn ngữ phổ quát), và liệu pháp ý nghĩa (logotherapy) của Viktor Frankl. Học phần có một phiên đối thoại đặc biệt: hai doanh nhân từng trải qua khủng hoảng tâm lý chia sẻ câu chuyện thật, không tô vẽ : đây là một trong các phiên có sức biến đổi lớn nhất của toàn chương trình.
HP6 : Gia đình Hiện đại và Hôn nhân Bền vững Học phần khảo sát những chuyển biến của thiết chế gia đình Việt Nam đương đại dưới tác động của đô thị hóa, kinh tế thị trường, và toàn cầu hóa, sử dụng các nghiên cứu xã hội học gia đình của các tác giả Việt Nam và quốc tế (trong đó có các khảo sát của Viện SocialLife và các tác phẩm của Mai Huy Bích, Lê Thị Quý, cùng các nghiên cứu so sánh quốc tế của Anthony Giddens và Andrew Cherlin). Phần thứ hai của học phần đi sâu vào hôn nhân như một mối quan hệ kép : vừa là sự kết hợp của hai cá nhân tự do, vừa là tình bạn đời (compagnonnage de vie theo cách diễn đạt Pháp ngữ) đòi hỏi những thực hành duy trì có chủ ý. Học phần có một buổi đặc biệt mời các cặp vợ chồng doanh nhân cùng tham gia, đối thoại về những thách thức và thực hành duy trì hôn nhân trong điều kiện cường độ công việc cao.
HP7 : Nuôi dạy Con cái và Gia phong giữa các Thế hệ Học phần đặt vấn đề về vai trò của doanh nhân trong việc nuôi dạy con cái trong một thời đại mà con cái họ lớn lên trong sự sung túc vật chất nhưng đối diện với những hỗn loạn về giá trị và ý nghĩa. Phần lý thuyết khảo sát các quan điểm giáo dục con : từ truyền thống Nho giáo về “tu thân, tề gia” đến lý thuyết gắn bó (attachment theory) của John Bowlby và các nghiên cứu giáo dục của Maria Montessori. Phần ứng dụng tập trung vào khái niệm gia phong (family ethos) như một di sản phi vật chất mà các thế hệ doanh nhân có thể trao truyền : không chỉ là tài sản kế thừa mà là các giá trị, tập quán, và ký ức gia đình tạo nên căn tính của các thế hệ kế tiếp. Học viên xây dựng “Bản phác Gia phong” của gia đình mình : một tài liệu cá nhân ghi lại các giá trị cốt lõi muốn truyền lại.
HP8 : Đạo đức Kinh doanh và Phẩm giá Lao động Học phần đặt các vấn đề đạo đức kinh doanh trong khung tư tưởng nhân văn rộng lớn hơn, không quy giản chúng vào các quy tắc tuân thủ (compliance) hay quan hệ công chúng. Phần lý thuyết khảo sát các trường phái đạo đức học ứng dụng vào kinh doanh: chủ nghĩa kết quả (consequentialism), đạo đức học bổn phận (deontology), đạo đức học đức hạnh (virtue ethics), và truyền thống nhân học lao động hiện đại với các tác giả như Hannah Arendt (The Human Condition, 1958) và Karol Wojtyła (The Acting Person, 1969). Phần ứng dụng đi sâu vào các tình huống đạo đức cụ thể của doanh nhân Việt Nam đương đại: quan hệ với người lao động, quan hệ với nhà cung cấp và đối tác, quan hệ với cơ quan quản lý nhà nước, và việc xử lý các xung đột giữa tăng trưởng và chính trực. Học viên trình bày một tình huống đạo đức từ chính doanh nghiệp của mình và thảo luận giải pháp với cả lớp.
HP9 : Doanh nhân, Cộng đồng và Di sản Xã hội Học phần khép lại bốn module nội dung bằng câu hỏi: doanh nghiệp của tôi sẽ để lại điều gì cho xã hội Việt Nam? Phần lý thuyết giới thiệu các khái niệm vốn xã hội (social capital) theo Robert Putnam và Pierre Bourdieu, công ích (common good, bonum commune) như một nguyên tắc tổ chức xã hội, và các khung thực hành đương đại như trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (corporate social responsibility, CSR), môi trường-xã hội-quản trị (environmental, social, governance, ESG), và doanh nghiệp xã hội (social enterprise). Phần ứng dụng có một buổi thực địa thăm một sáng kiến xã hội thành công của doanh nhân Việt Nam, và một buổi xây dựng đề án “Sáng kiến Cộng đồng” cá nhân : mỗi học viên thiết kế một hoạt động đóng góp cho cộng đồng có thể triển khai trong 12 tháng tiếp theo.
HP10 : Học phần đồng hành: Retreat “Tuyên ngôn Doanh nhân Toàn diện” Học phần đồng hành kết thúc chương trình bằng một retreat ba ngày hai đêm tổ chức tại một địa điểm gần thiên nhiên (đề xuất: Đà Lạt, Bảo Lộc, hoặc một thiền viện ở vùng đồng bằng). Mục đích kép của retreat là tổng hợp toàn bộ hành trình bốn tháng và xây dựng “Tuyên ngôn Doanh nhân Toàn diện” : văn bản cá nhân kết thúc của mỗi học viên. Cấu trúc ba ngày gồm: ngày thứ nhất là ngày tĩnh lặng và phản tư cá nhân, học viên rút lui khỏi nhịp công việc thường nhật và viết nháp Tuyên ngôn của mình; ngày thứ hai là ngày đối thoại : học viên trình bày Tuyên ngôn của mình trước nhóm nhỏ và nhận phản hồi; ngày thứ ba là ngày cam kết và bế giảng : mỗi học viên trình bày Tuyên ngôn cuối cùng trước cả lớp, và toàn lớp tổ chức nghi thức bế giảng giản dị nhưng có ý nghĩa. Học phần đồng hành cũng là dịp xác lập mạng lưới đồng môn dài hạn : các “đồng hành sức khỏe”, “đồng hành thiên chức”, và “đồng hành gia đình” sẽ tiếp tục hỗ trợ nhau sau khi chương trình kết thúc.
HP11 : DOANH NHÂN TRONG KỶ NGUYÊN CÔNG NGHIỆP SỐ
Trích bộ giáo trình “Doanh Nhân và Sức Khỏe trong Thời Đại Công Nghiệp Số”
1. Cánh cửa của một thời đại mới
Mỗi cuộc cách mạng công nghiệp không chỉ thay đổi máy móc, phương thức sản xuất hay tốc độ giao thương; sâu xa hơn, nó làm thay đổi cấu trúc của đời sống con người và ý nghĩa của vai trò lãnh đạo. Nếu
ở thời đại nông nghiệp, giá trị chủ yếu nằm ở đất đai và sức lao động; ở thời đại công nghiệp, giá trị nằm ở dây chuyền, nhà máy và vốn; thì ở kỷ nguyên công nghiệp số, tài sản quý giá nhất lại nằm trong trí tuệ, dữ liệu, sự sáng tạo và khả năng thích ứng. Doanh nhân vì thế không còn đơn thuần là người buôn bán, người mở xưởng hay người quản lý vốn. Doanh nhân hôm nay trở thành người đọc được chiều gió của thời đại, người nhìn thấy cơ hội ẩn sâu trong chuyển động công nghệ, và người có đủ bản lĩnh để chuyển hóa bất định thành giá trị.
2. Doanh nhân hôm nay là ai?
Doanh nhân của thời đại mới là người bước vào thương trường bằng cả trí óc lẫn trách nhiệm. Họ không chỉ bán một sản phẩm hay cung cấp một dịch vụ; họ tạo ra giải pháp cho những vấn đề thật của con người. Họ không chỉ theo đuổi lợi nhuận; họ còn phải kiến tạo niềm tin. Trong môi trường số, nơi khách hàng có thể đánh giá, so sánh và rời bỏ thương hiệu chỉ bằng vài thao tác trên điện thoại, niềm tin trởthành loại vốn vô hình nhưng quyết định vận mệnh của doanh nghiệp. Muốn có niềm tin, doanh nhân không thể sống bằng sự chắp vá, càng không thể lãnh đạo bằng sự nóng vội, cạn kiệt hay bất ổn kéo dài.
3. Tốc độ của công nghệ và sức ép vô hình lên đời sống doanh
nhân
Công nghệ số làm cho mọi thứ nhanh hơn: nhanh hơn trong giao dịch, nhanh hơn trong lan truyền thông tin, nhanh hơn trong đổi mới sản phẩm và cũng nhanh hơn trong việc phát hiện sai lầm. Điều này tạo ra
một kiểu áp lực mới mà nhiều doanh nhân không nhìn thấy ngay từ đầu. Đó là áp lực phải phản ứng liên tục. Điện thoại thông minh biến họ thành người luôn ở chế độ sẵn sàng. Tin nhắn công việc có thể đến lúc nửa đêm. Báo cáo có thể cần phản hồi ngay trong bữa cơm gia đình. Một khủng hoảng trên mạng xã hội có thể bùng lên trong vài phút. Sự kết nối mọi lúc mọi nơi, nếu không được quản trị, sẽ biến thành trạng thái bị công việc xâm chiếm mọi không gian riêng tư.
4. Khi thành công bên ngoài không đồng nghĩa với vững vàng
bên trong
Một nghịch lý rất đáng suy ngẫm của đời sống doanh nhân là: có người càng thành công càng mệt mỏi. Khi doanh nghiệp còn nhỏ, họ vất vả nhưng mục tiêu khá rõ. Khi doanh nghiệp lớn dần, họ có thêm doanh thu, thêm nhân sự, thêm đối tác, thêm danh tiếng; nhưng đồng thời cũng thêm gánh nặng, thêm rủi ro và thêm áp lực phải duy trì hình ảnh. Có người bước lên cao nhưng tâm hồn ngày một căng. Có người bên ngoài tỏa sáng nhưng bên trong trống rỗng. Có người điều hành rất nhiều người nhưng lại không còn điều hành được chính nhịp sống của mình.
5. Sức khỏe toàn diện – nền móng của trí tuệ lãnh đạo
Người xưa có câu: tâm an thì trí sáng. Trong ngôn ngữ của quản trị hiện đại, điều đó có thể hiểu là trạng thái nội tâm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng ra quyết định. Một cơ thể thường xuyên thiếu ngủ sẽ làm
não bộ suy giảm khả năng tập trung. Một tinh thần bị căng kéo kéo dài sẽ làm suy yếu năng lực phán đoán. Một cảm xúc dồn nén không được chuyển hóa sẽ khiến nhà lãnh đạo dễ nổi nóng, phản ứng cực đoan hoặc đưa ra những quyết định mang tính bù trừ. Bởi vậy, sức khỏe toàn diện không chỉ giúp doanh nhân “sống khỏe” mà còn giúp họ “lãnh đạo đúng”.
6. Doanh nhân trước bài toán quản trị chính mình
Nhiều người học rất nhiều về quản trị tài chính, quản trị nhân sự, quản trị quy trình, quản trị rủi ro, nhưng lại quên rằng bài toán quản trị đầu tiên và khó nhất là quản trị chính mình. Người không điều hòa được
nhịp sống của mình sẽ sớm mang sự hỗn loạn ấy vào tổ chức. Người không làm chủ được cảm xúc của mình sẽ vô tình biến văn hóa doanh nghiệp thành nơi lan truyền căng thẳng. Người không biết nghỉ ngơi
đúng cách sẽ dễ bắt cả tập thể vận hành trong tình trạng kiệt sức như mình. Và người không biết lắng nghe nội tâm sẽ rất khó lắng nghe người khác thật sự.
7. Bản lĩnh số: không chỉ giỏi công nghệ mà còn giỏi giữ mình
Trong kỷ nguyên số, doanh nhân cần năng lực sử dụng công nghệ, nhưng giỏi công nghệ thôi chưa đủ. Điều quan trọng hơn là biết dùng công nghệ mà không đánh mất sự tập trung, biết kết nối rộng mà vẫn gìn giữ chiều sâu, biết nắm số liệu mà không đánh mất cảm nhận con người. Bản lĩnh số chính là khả năng giữ mình giữa một thế giới đầy công cụ. Có công cụ mà thiếu bản lĩnh, con người sẽ bị công cụ dẫn dắt. Có dữ liệu mà thiếu chiều sâu, nhà lãnh đạo sẽ dễ ra quyết định chỉ dựa vào những gì đo được, mà quên mất những giá trị tuy khó đo nhưng vô cùng quyết định như niềm tin, sự gắn kết, văn hóa, phẩm giá và lòng trung thành.
8. Gia đình, cộng sự và hệ sinh thái hạnh phúc của doanh nhân
Không một doanh nhân nào có thể sống khỏe và đi xa nếu cả đời mình chỉ xoay quanh công việc. Đằng sau mỗi nhà lãnh đạo bền bỉ thường là một hệ sinh thái nâng đỡ: gia đình biết thấu hiểu, cộng sự có thể chia sẻ trách nhiệm, những người bạn chân thành, những cố vấn đủ từng trải và một môi trường làm việc không tôn thờ sự kiệt sức. Nhiều người tưởng rằng thành công là leo lên thật cao một mình; nhưng càng sống lâu trong thương trường, người ta càng hiểu rằng đi một mình rất dễ nhanh, còn đi cùng nhau mới có thể bền
9. Từ người làm giàu đến người kiến tạo giá trị
Kỷ nguyên công nghiệp số đòi hỏi một sự nâng cấp trong chính định nghĩa về doanh nhân. Nếu chỉ hiểu doanh nhân là người làm giàu, ta mới chạm đến lớp vỏ của vai trò ấy. Doanh nhân đích thực là người kiến tạo giá trị: giá trị cho khách hàng, cho đội ngũ, cho cộng đồng, cho môi trường kinh doanh và cho tương lai xã hội. Khi doanh nhân chỉ chăm chăm tích lũy lợi nhuận mà không quan tâm đến chất lượng nhân bản của tăng trưởng, họ có thể giàu lên, nhưng khó trở thành người có tầm vóc.
10. Hướng đi của một doanh nhân bền vững trong thế kỷ XXI
Đứng trước tương lai, doanh nhân cần ba nền tảng để bước đi bền vững. Nền tảng thứ nhất là năng lực học hỏi suốt đời. Một thế giới thay đổi nhanh buộc người lãnh đạo phải khiêm tốn trước cái mới. Nền tảng thứ hai là sức khỏe toàn diện, bởi không có thân tâm lành mạnh thì mọi tầm nhìn đều khó thành hình lâu dài. Nền tảng thứ ba là hệ giá trị đạo đức, vì càng có nhiều công cụ mạnh, con người càng cần la bàn luân lý rõ ràng để không lạc hướng. Ba nền tảng ấy kết hợp với nhau sẽ tạo nên vóc dáng của doanh nhân thế kỷ XXI: giỏi nhưng không kiêu, nhanh nhưng không vội, mạnh nhưng không thô, khát vọng nhưng không đánh mất tình người.
11. Những năng lực phải có của doanh nhân trong thời đại số
Từ những phân tích trên, chương đầu tiên của giáo trình không nhằm đổ thêm gánh nặng cho doanh nhân, mà muốn mở ra một lối nhìn mới: muốn bền vững, trước hết phải biết sống bền vững. Bài học thứ nhất là hãy xem sức khỏe như một phần của chiến lược kinh doanh chứ không phải một nhu cầu riêng tư bị trì hoãn. Một người lãnh đạo mệt mỏi kéo dài sẽ làm giảm chất lượng quyết định, giảm chất lượng hiện diện và cuối cùng làm giảm chất lượng tăng trưởng. Chăm sóc sức khỏe vì thế không phải là “nghỉ việc để lo cho bản thân”, mà là đầu tư vào năng lực lãnh đạo lâu dài.
12. Bài học thực tiễn cho doanh nhân – Thay lời kết của Chương I
Kỷ nguyên công nghiệp số đem đến cho doanh nhân những cánh cửa lớn chưa từng có, nhưng cũng đặt lên vai họ những thử thách tinh vi chưa từng có. Trong bối cảnh ấy, người lãnh đạo không thể chỉ trông cậy vào sự thông minh hay lòng can đảm. Họ cần một nền tảng sống đủ sâu để giữ được phương hướng, đủ lành để không tự bào mòn mình, và đủ sáng để hiểu rằng giá trị của doanh nhân không nằm ở việc họ chạy nhanh đến đâu, mà ở việc họ dẫn con người đi về đâu.
“Một doanh nhân biết giữ gìn sức khỏe là người biết bảo vệ tương lai
của chính mình, của doanh nghiệp mình và của những con người
đang đặt niềm tin nơi mình.”
Gợi mở suy ngẫm dành cho doanh nhân
Sau khi đi qua chương này, mỗi doanh nhân có thể tự hỏi mình ba câu hỏi rất căn bản. Thứ nhất, tôi đang điều hành doanh nghiệp bằng năng lượng sáng suốt hay bằng quán tính căng thẳng? Thứ hai, lịch sống hôm nay của tôi có đang bảo vệ sức khỏe, gia đình và chiều sâu nội tâm hay không? Thứ ba, thành công mà tôi đang theo đuổi có giúp tôi trở nên nhân bản hơn, tử tế hơn và có trách nhiệm hơn hay không? Những câu hỏi ấy không nhằm phán xét, nhưng giúp người lãnh đạo soi lại hướng đi của mình
V. PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO
Chương trình áp dụng triết lý học đảo ngược kết hợp (flipped blended learning) với tỉ lệ phân bổ 40% tự học trước buổi học – 50% tích cực trên lớp – 10% củng cố sau buổi học. Trước mỗi học phần, học viên nhận một gói tài liệu đọc trước (1-2 chương sách hoặc bài báo, tổng cộng 30-60 trang); thời gian trên lớp dành cho thảo luận, đối thoại với chuyên gia, và thực hành thay vì thuyết giảng một chiều; sau mỗi học phần, học viên hoàn thiện bài viết phản tư và bài tập ứng dụng vào doanh nghiệp của mình.
Ba phương pháp xuyên suốt được vận dụng trong toàn bộ chương trình.
Phản tư có hệ thống (systematic reflection) là việc viết nhật ký hàng ngày trả lời các câu hỏi do giảng viên đặt ra : đây là một thực hành mượn từ nhiều truyền thống tâm linh và đã được tâm lý học hiện đại xác nhận có tác động tích cực đến sức khỏe tinh thần và năng lực tự nhận biết.
Đối thoại đồng môn (peer dialogue) là việc học viên được ghép cặp ngẫu nhiên và có một cuộc gọi 30 phút mỗi tuần để chia sẻ về hành trình : phương pháp này không chỉ tạo trách nhiệm giải trình mà còn xây dựng những mối quan hệ cá nhân thực sự, vốn là một “sản phẩm phụ” có giá trị nhất của các chương trình executive chất lượng cao.
Tiếp xúc trực tiếp (encounter) là việc mỗi học phần có ít nhất một buổi học viên gặp gỡ trực tiếp một con người sống thực hành mà chương trình đang nghiên cứu : một bác sĩ y học chức năng, một thiền sư, một cặp vợ chồng doanh nhân hạnh phúc, một sáng kiến cộng đồng thành công : để học không chỉ qua khái niệm mà qua sự gặp gỡ.
Chương trình áp dụng năm hình thức giảng dạy: (1) giảng tập trung trực tiếp tại địa điểm học ở TP.HCM; (2) học online qua nền tảng MS Teams cho các phiên đối thoại đồng môn và mentoring 1-1 giữa các buổi tập trung; (3) học kết hợp khi cần kết nối với chuyên gia ở xa; (4) học cá nhân hóa qua mentoring 1-1 dành cho học phần đồng hành; (5) học thực địa qua các chuyến tham quan và buổi gặp gỡ tại doanh nghiệp, sáng kiến xã hội, hoặc thiền viện.
Mọi học phần được thiết kế dựa trên nghiên cứu thực tiễn của lĩnh vực khoa học xã hội Việt Nam, trong đó có các khảo sát của Viện Nghiên cứu Đời sống Xã hội (Viện SocialLife) về gia đình, lao động, đời sống tâm lý đô thị, và chuyển biến giá trị, được trích dẫn như bằng chứng cho các kiến thức được giảng dạy.
VI. QUYỀN LỢI HỌC VIÊN
Học viên hoàn thành chương trình nhận được một bộ giá trị có thể chia thành ba nhóm.
Nhóm thứ nhất là các sản phẩm cá nhân : Hồ sơ Sức khỏe Cá nhân (gồm kết quả các xét nghiệm đầu vào và đánh giá của các chuyên gia), Kế hoạch Chăm sóc Sức khỏe 12 tháng, Bản phác Gia phong, đề án Sáng kiến Cộng đồng, và Tuyên ngôn Doanh nhân Toàn diện.
Nhóm thứ hai là các nguồn lực hỗ trợ : bộ tài liệu đọc đầy đủ của tất cả 10 học phần, nhật ký phản tư bằng giấy chất lượng cao do chương trình thiết kế riêng, ba phiên mentoring 1-1 với các chuyên gia hàng đầu (về sức khỏe, tâm lý, và chiến lược cá nhân), và quyền truy cập kho tư liệu trực tuyến của chương trình trong ít nhất 24 tháng sau khi tốt nghiệp.
Nhóm thứ ba là mạng lưới đồng môn : các bữa cơm chung trong suốt khóa học, retreat ba ngày tại địa điểm thiên nhiên, các “vòng tròn đồng hành” được duy trì sau khi chương trình kết thúc, và một sự kiện đoàn tụ thường niên dành cho học viên cũ.
Học viên hoàn thành đầy đủ các điều kiện đánh giá nhận
Chứng nhận hoàn thành do BAF cùng các đối tác chuyên môn của chương trình ký xác nhận.
VII. ĐIỀU KIỆN THAM GIA
Chương trình tuyển sinh các doanh nhân, chủ doanh nghiệp, CEO, founder, hoặc thành viên hội đồng quản trị của các doanh nghiệp Việt Nam, độ tuổi từ 38 đến 58, có ít nhất 7 năm kinh nghiệm điều hành ở vai trò lãnh đạo cao cấp. Chương trình mở cho các doanh nhân thuộc mọi ngành nghề, mọi quy mô doanh nghiệp (từ doanh nghiệp vừa và nhỏ đến doanh nghiệp lớn), và không phân biệt tín ngưỡng tôn giáo hay quan điểm chính trị.
Hồ sơ ứng tuyển bao gồm: (1) đơn đăng ký kèm sơ yếu lý lịch nghề nghiệp; (2) một bài viết tự giới thiệu khoảng 1.000 từ trả lời ba câu hỏi : vì sao anh/chị muốn tham gia chương trình ở thời điểm này, anh/chị đang đối diện với câu hỏi gì lớn nhất trong đời sống cá nhân và nghề nghiệp, và anh/chị kỳ vọng nhận được điều gì từ chương trình; (3) một thư giới thiệu của một người đã đồng hành với ứng viên trong sự nghiệp (đối tác kinh doanh, mentor, hoặc đồng nghiệp lâu năm). Ban tổ chức tổ chức một buổi phỏng vấn ngắn 30 phút với mỗi ứng viên trước khi đưa ra quyết định nhập học.
Mỗi khóa giới hạn 24-28 học viên. Chương trình ưu tiên xây dựng một lớp có sự đa dạng về ngành nghề, vùng miền, và giới tính để đảm bảo chất lượng đối thoại đa chiều.
VIII. ĐÁNH GIÁ
Chương trình áp dụng mô hình đánh giá thiên về thực hành và phản tư cá nhân, với bốn cấu phần đánh giá có trọng số như sau.
Cấu phần thứ nhất : Nhật ký phản tư (25%): Học viên duy trì nhật ký phản tư hàng tuần trong suốt 16 tuần học, mỗi bài 300-500 từ trả lời câu hỏi do giảng viên đặt ra cho tuần đó. Đánh giá dựa trên tính đều đặn (hoàn thành ít nhất 14 trên 16 tuần) và chiều sâu phản tư (qua đánh giá ngẫu nhiên ba bài bất kỳ).
Cấu phần thứ hai : Bài luận giữa kỳ về Thiên chức (25%): Học viên hoàn thành sau Module 2 (Tâm), độ dài 2.500-3.500 từ, trả lời câu hỏi: “Thiên chức doanh nhân của tôi là gì? Hành trình nghề nghiệp đã đưa tôi đến nhận thức này như thế nào?” Bài luận được đánh giá theo bốn tiêu chí: chiều sâu tự nhận biết, sự rõ ràng trong diễn đạt, mức độ vận dụng các khái niệm đã học, và tính cụ thể của các cam kết hành động.
Cấu phần thứ ba : Hồ sơ Cuộc sống Toàn diện (30%): Đây là sản phẩm tích hợp gồm Hồ sơ Sức khỏe Cá nhân, Bản phác Gia phong, đề án Sáng kiến Cộng đồng, và một bản tổng kết các cam kết hành động cho 12 tháng tiếp theo. Học viên trình bày hồ sơ này trong nhóm nhỏ vào tuần 14 và nhận phản hồi từ đồng môn cùng giảng viên.
Cấu phần thứ tư : Tuyên ngôn Doanh nhân Toàn diện (20%): Học viên trình bày Tuyên ngôn cuối cùng trước cả lớp tại retreat tổng kết, thời lượng 15 phút mỗi người. Tuyên ngôn được đánh giá theo ba tiêu chí: tính nhất quán nội tại của tầm nhìn, mức độ tích hợp ba sợi chỉ tư tưởng (nhân vị toàn diện, thiên chức, kinh tế nhân văn), và tính khả thi của các cam kết.
Thang điểm: Áp dụng thang điểm 4.0 chuẩn quốc tế.
Điều kiện hoàn thành chương trình: Tỉ lệ chuyên cần đạt ít nhất 80% các buổi học, hoàn thành 100% các bài tập bắt buộc, đạt điểm trung bình tích lũy (GPA) ít nhất 2.0/4.0, và hoàn thành phần bảo vệ Tuyên ngôn Doanh nhân Toàn diện tại retreat tổng kết.
*Đơn vị tổ chức: Qũy xã hội Bảo An ( BAF )
*Cố vấn thiết kế chuyên môn: PGS.TS. Nguyễn Đức Lộc